Mỹ nợ kỷ lục nhưng chuyên gia không thấy lo

Tỷ lệ nợ công trên GDP của Mỹ dự kiến đạt kỷ lục năm nay nhưng nhiều chuyên gia cho rằng điều này chưa chắc đã là rủi ro.

Năm nay, nợ công của chính phủ liên bang Mỹ dự kiến chiếm 102% GDP. Đây sẽ là tỷ lệ nợ trên GDP cao nhất kể từ năm 1946, theo Văn phòng Ngân sách Quốc hội.

Đồng thời, mức thâm hụt hàng năm dự kiến lên tới 2.300 tỷ USD, tương đương 10,3% GDP. Đây là mức thâm hụt lớn thứ hai kể từ năm 1945, sau mức cao kỷ lục của năm ngoái là 3.100 tỷ USD, tương đương 14,9% GDP.

Nợ liên bang đạt mức cao nhất mọi thời đại, một phần nhờ các nhà đầu tư nước ngoài đang sẵn lòng gửi tiền của họ ở Mỹ. Việc phát hành trái phiếu kho bạc, tín phiếu, lệnh phiếu… giúp chính phủ Mỹ thu về nguồn tiền mặt – miễn là đồng USD vẫn là tiền tệ dự trữ toàn cầu – và cung cấp cho các cá nhân, tổ chức một cách an toàn để tích lũy của cải.

“Một điều mà các nhà kinh tế và mọi người nói chung đã tính toán sai lầm là nhu cầu rất lớn trên toàn cầu với đồng USD và các khoản nợ bằng USD”, David Andolfatto, Phó chủ tịch cấp cao của Ngân hàng Dự trữ Liên bang St. Louis, cho biết, “Nhu cầu này đã bùng nổ trong 30 năm qua”.

Một tấm bảng ở Atlanta cho biết tổng số nợ của Mỹ gần 28.000 tỷ USD vào tháng 12/2020. Trong đó, nợ công liên bang chiếm gần 22.000 tỷ USD. Ảnh: Zuma Press.

Một tấm bảng ở Atlanta cho biết tổng số nợ của Mỹ gần 28.000 tỷ USD vào tháng 12/2020. Trong đó, nợ công liên bang chiếm gần 22.000 tỷ USD. Ảnh: Zuma Press.

Theo truyền thống, tỷ lệ nợ công trên GDP cao sẽ gây ra lo ngại về lạm phát tăng vọt và khả năng chính phủ phản ứng bằng cách tăng thuế hoặc cắt giảm chi tiêu. Nhưng ngày nay, không rõ tỷ lệ nào thực sự thể hiện sự thận trọng về tài khóa hoặc rủi ro tài chính, đặc biệt là vì mức hiện tại vượt quá ngưỡng mà trước đây được coi là an toàn.

Khi Liên minh châu Âu thành lập vào năm 1993, các nước thành viên phải có tỷ lệ nợ trên GDP không lớn hơn 60%. Một nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới năm 2010 cho thấy, tỷ lệ này không được vượt quá 77%. Cùng năm đó, hai nhà kinh tế học nổi tiếng của Harvard đã kết luận rằng tỷ lệ nợ trên GDP trên 90% là quá rủi ro.

Nhưng triển vọng ngân sách dài hạn của năm nay do Văn phòng Ngân sách Quốc hội Mỹ công bố đã tuyên bố rằng tỷ lệ nợ trên GDP không có điểm giới hạn nào để có thể xảy ra hoặc sắp xảy ra khủng hoảng. Nhật Bản là một tiền lệ cho Mỹ vì dường như đang thử nghiệm các giới hạn. Theo Fitch Ratings, vào năm 2019, nợ của nước này tương đương khoảng 230% GDP.

Cùng với đó, hầu hết trái phiếu kho bạc của Mỹ trước đây được nắm giữ trong nước và nhu cầu vay ổn định. Theo ông Andolfatto, trong bối cảnh đó, tỷ lệ nợ trên GDP mới có thể nhiều ý nghĩa. Tuy nhiên, ngày nay, khoảng một phần ba số nợ hiện được giữ ở nước ngoài tại các nước như Trung Quốc, Nhật Bản và Anh, nên ý nghĩa của nó không còn nhiều.

“Đột nhiên, thế giới đã thay đổi”, ông nói “Tỷ lệ nợ trên GDP ngày nay có thể cao hơn nhiều mà không có hậu quả lạm phát hoặc hệ quả lãi suất tương tự do nhu cầu toàn cầu đã tăng lên”.

Nhu cầu đó làm giảm bớt lo ngại truyền thống rằng tỷ lệ nợ trên GDP cao sẽ dẫn đến chi phí tăng, tiền lương giảm và Cục Dự trữ Liên bang tăng lãi suất để giảm bớt áp lực lạm phát đó.

Vậy nếu tỷ lệ nợ trên GDP không còn nhiều ý nghĩa thì Mỹ nên quan tâm điều gì? Theo William English, Giáo sư tài chính tại Yale và là cựu nhà kinh tế tại Fed, nước này nên xem xét đến khả năng trả nợ. Theo ông, thay vì nhìn vào việc xem xét quy mô khoản nợ so với thu nhập nên quan tâm chuyện mỗi năm phải trả bao nhiêu lãi. Năm ngoái, lãi trả cho nợ liên bang của Mỹ là 345 tỷ USD, hay 1,6% GDP.

Ông Andolfatto cho rằng nên dùng một thước đo khác là lạm phát. Nếu lạm phát làm cho GDP tăng với tốc độ nhanh hơn lãi suất, như nó thường xảy ra trong những năm gần đây, Mỹ có khả năng gánh thêm nợ. Còn nếu nền kinh tế tăng trưởng chậm lại và GDP tăng với tốc độ chậm hơn lãi suất, điều ngược lại sẽ đúng.

Vì vậy, khi đánh giá về núi nợ, điều nào quan trọng hơn? Trả lãi hàng năm dưới 2% GDP? Tỷ lệ nợ trên GDP dự kiến của năm nay là 102%? Thước đo lạm phát hay một số biện pháp khác?

“Câu hỏi đặt ra là bạn đang sử dụng khoản vay nào”, ông English cho biết. “Nếu bạn đang xây dựng một nền kinh tế mạnh hơn, phát triển nhanh hơn thì mức nợ khá cao có thể vừa là cần thiết nhưng vẫn bền vững. Thật khó để có một quy tắc rõ ràng”.

Phiên An (theo WSJ)

Nguồn : vnexpress.net